CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM X

Mắc thủy đậu khi mang bầu

Bác sĩ tư vấn - 19/05

Nếu người mẹ bị thủy đậu trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ thì không làm tăng nguy cơ sẩy thai mà gây biến chứng dị tật bẩm sinh.

Chào Bác sĩ! Bác sĩ cho em hỏi là em đang có bầu 34 tuần mà bị thủy đậu thì có ảnh hưởng nhiều đến em bé không? Có thể dùng thuốc bôi và uống được không? Em xin cảm ơn!

Trả lời:

Bệnh thủy đậu do vi-rút Varicella Zoster (VZV) gây nên, truyền từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp, gây tổn thương chủ yếu trên da và niêm mạc. Khi bạn mang thai mà bị mắc bệnh thủy đậu thì có 2 khả năng ảnh hưởng: ảnh hưởng đến bạn và ảnh hưởng đến cháu bé.

Ở Mỹ, tỉ lệ phụ nữ mang thai mắc bệnh thủy đậu rất ít, chiếm khoảng 0,3 % (cứ 1.000 phụ nữ mang thai thì tỉ lệ mắc bệnh thủy đậu là 3 trong số 1.000 người).

Ảnh minh họa

Mắc bệnh thủy đậu trong thời kỳ mang thai có thể gây nên biến chứng cho cả mẹ và thai nhi, nhưng thực tế tỉ lệ biến chứng rất ít gặp, đa phần phụ nữ mang thai mắc bệnh đều bình phục và không có ảnh hưởng tới trẻ sơ sinh.

Khi mang thai bị thủy đậu thì bạn dễ có nguy cơ gặp những biến chứng nguy hiểm của bệnh thủy đậu, đặc biệt là biến chứng viêm phổi do vi-rút thủy đậu, vì vậy bạn cần thông báo ngay cho bác sĩ điều trị khi bạn có bất cứ dấu hiệu bất thường nào về đường hô hấp, hoặc có các triệu chứng mới xuất hiện.

Tỉ lệ biến chứng viêm phổi do vi-rút thủy đậu trên phụ nữ có thai gặp từ 10-20%, và dễ gặp ở những người có bệnh lý mãn tính, có bệnh ký đường hô hấp như viêm phế quản mãn, hen phế quản hay khí phế thũng; tỉ lệ biến chứng trên cơ quan khác ít gặp hơn như viêm não, viêm gan.

Phụ nữ từng mắc bệnh thủy đậu hoặc đã được tiêm phòng bệnh thủy đậu trước khi mang thai thì không sợ bị ảnh hưởng những biến chứng của bệnh thủy đậu với bản thân họ cũng như với thai nhi.

Đối với thai nhi: Tổn thương do bệnh thủy đậu gây ra tùy thuộc vào thời gian mang thai:

- Nếu người mẹ bị thủy đậu trong thời kỳ mang thai 3 tháng đầu tiên của thai kỳ: không làm tăng nguy cơ sẩy thai mà gây biến chứng dị tật bẩm sinh. Khi người mẹ mang thai trong 13 tuần đầu tiên của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là rất ít. Tỉ lệ gặp bất thường và dị tật thai nhi là 0,5% với các tổn thương có thể gặp là sẹo da, những bất thường về mắt như bệnh lý võng mạc, đục thủy tinh thể, ngắn chi, hay những bất thường về hệ thống thần kinh, chậm phát triển tâm thần, tổn thương bàng quang, tổn thương đường tiêu hóa...

- Trong giai đoạn từ tuần thứ 13-20 của thai kỳ, tỉ lệ gặp dị tật bẩm sinh tăng nhẹ, tỉ lệ trẻ em có bất thường, dị tật bẩm sinh gặp khoảng dưới 1%.

- Trong gian đoạn từ tuần thứ 20-36 của thai kỳ: vi-rút thủy đậu có thể tồn tại trong cơ thể thai nhi nhưng dường như không gây nên bất kỳ dị tật bẩm sinh nào với thai nhi. Tuy nhiên trẻ sinh ra có thể có nguy cơ mắc bệnh zona trong một vài năm đầu sau khi sinh.

- Sau 36 tuần thì nguy cơ mắc dị tật bẩm sinh có thể tăng trở lại, đứa bé bị nhiễm vi-rút nhưng ít có khả năng phát triển các triệu chứng do đã có miễn dịch của mẹ truyền cho con.

- Nếu như người mẹ nhiễm vi-rút thủy đậu trong vòng 7 ngày trước và sau khi sinh thì nguy cơ con sẽ bị mắc bệnh thủy đậu nghiêm trọng vì không nhận được nhiều kháng thể của mẹ truyền cho con và cơ thể chưa có miễn dịch đặc hiệu chống lại bệnh tật. Trong trường hợp này bé sẽ được sử dụng Varicella Zoster Imune globuline (VZIG), kháng thể đặc hiệu với vi-rút thủy đậu để điều trị.

Ảnh minh họa

Điều trị bệnh thủy đậu trên phụ nữ mang thai cần lưu ý một số điểm sau:

Để dự phòng các biến chứng của bệnh thủy đậu gây nên cho người mẹ mang thai, người mẹ cần được tiêm kháng thể đặc hiệu VZIG trong vòng 96 giờ sau khi nhiễm vi-rút. Việc dùng VZIG chỉ có tác dụng dự phòng các biến chứng xảy ra ở người mẹ chứ không có tác dụng ngăn ngừa trẻ mắc vi-rút thủy đậu hay mắc hội chứng thủy đậu bẩm sinh.

Khi phụ nữ mang thai nhiễm vi-rút thủy đậu, việc sử dụng thuốc kháng vi-rút như Acyclovir được cân nhắc trong vòng 24 giờ đầu sau khi các ban, nốt phỏng xuất hiện. Chỉ được sử dụng Acyclovirkhi tuổi thai đã trên 20 tuần. Acyclovir có tác dụng làm giảm các triệu chứng sốt, dự phòng các biến chứng, liều lượng và cách dùng còn phụ thuộc vào triệu chứng, mức độ bệnh. Thông thường Acyclovir được sử dụng 5 lần/ngày trong thời gian 7 ngày.

Một số thuốc điều trị triệu chứng khác có thể được sử dụng như Paracetamol để hạ sốt, giảm đau, kem kẽm có thể được bôi trên tổn thương da nhằm giảm sự đau rát, kích thích da... Bên cạnh đó, người bệnh cần được nghỉ ngơi, có chế độ dinh dưỡng tốt, ăn lỏng, dễ tiêu hóa, dễ hấp thu, uống đủ nước, tăng cường sinh tố, đặc biệt là Vitamin C để nâng cao sức đề kháng cho cơ thể.

Bạn thân mến! Bạn mang thai 34 tuần tuổi, hiện bạn có biểu hiện bệnh thủy đậu. Như thông tin chúng tôi đã nêu trên, thì bạn có thể yên tâm về việc cháu bé sẽ không có dị tật bẩm sinh, tuy nhiên bạn lưu ý cháu có thể bị bệnh Zona. Bệnh có thể xuất hiện trong một vài năm sau khi em bé sinh ra.

Đối với bạn, trong thư bạn không nêu các triệu chứng bệnh, thông tin bạn cung cấp cũng không cho biết mức độ bệnh, tiền sử bênh tật và tình trạng sức khỏe của bạn. Vì vậy, chúng tôi khuyên bạn nên đến ngay cơ sở y tế để được khám và có điều trị phù hợp nhất để hạn chế tối đa các biến chứng do bệnh thủy đậu gây ra.

Chúc bạn sớm khỏi bệnh. Chúc bạn và em bé mạnh khỏe, bình an!

ThS. Nguyễn Kiên Cường

Theo Sức khỏe và Đời sống Link Gốc: Copy Link

Tags:

Video nổi bật