Cuộc đấu Mỹ-Nga-Trung ở Afghanistan và bài học cho vùng Vịnh

Giới phân tích nhận định, các nước vùng Vịnh sẽ vỡ được nhiều điều khi Nga và Trung Quốc tiến vào Afghanistan, thế chỗ Mỹ đã rời khỏi nước này.

Theo Tiến sĩ James M. Dorsey viết trên tạp chí BESA, các quốc gia Ả rập vùng Vịnh sẽ theo dõi chặt chẽ cách Nga và Trung Quốc xử lý khoảng trống an ninh sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Afghanistan và từ bỏ Trung Á.

Họ muốn xác định mức độ nào mà các quốc gia đó có thể là lựa chọn thay thế khả thi cho chiếc ô an ninh không còn đáng tin cậy của Mỹ ở Trung Đông. Các quốc gia vùng Vịnh cũng có khả năng thúc đẩy tăng cường các liên minh trong khu vực, đặc biệt là với Israel.

Sự thay đổi định hướng chiến lược của Hoa Kỳ

Chiến thắng của Taliban ở Afghanistan đã khiến các thông số về các lựa chọn của vùng Vịnh trở nên rõ ràng hơn khi ở Washington đang diễn ra sự tranh luận về chính sách đối ngoại của Mỹ, bao gồm cả phạm vi và tiện ích của sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Trung Đông.

Nhà phân tích Hussein Ibish cho biết, ở một phía của cuộc tranh luận, một số ý kiến đòi thúc đẩy việc tiếp tục hoặc mở rộng sự hiện diện của Mỹ; phía bên kia yêu cầu loại bỏ tất cả hoặc gần như tất cả các cơ sở quân sự cố định của Hoa Kỳ trong khu vực.

Khoảng trống cho sự thỏa hiệp được tạo ra bởi thực tế là Tổng thống Biden và người tiền nhiệm của ông, Donald Trump, đã áp dụng cùng một động lực chính sách đối ngoại ngay cả khi họ gọi nó với cái tên khác nhau.

Ông Trump đã sử dụng nguyên tắc 'Nước Mỹ trên hết' (America First), một cụm từ lần đầu tiên được sử dụng như một lời kêu gọi tập hợp chống lại những người chống đối trong Thế chiến II; còn ông Biden nhấn mạnh lợi ích quốc gia được xác định trong phạm vi hẹp.

Cả hai đều chấp nhận một số khái niệm về chủ nghĩa biệt lập, mặc dù được đóng khung khác nhau về phạm vi, cũng như những người theo chủ nghĩa dân tộc cánh hữu, những người theo chủ nghĩa tự do và cánh tả tham gia vào cuộc tranh luận.

Ibish đề nghị rằng, sự đồng thuận liên quan đến việc quân đội Mỹ ở lại Trung Đông trong thời gian dài nhưng việc triển khai binh lính và khí tài quân sự nên có quy mô nhỏ hơn, gọn gàng hơn và linh hoạt hơn.

Nga và Trung Quốc đang nhăm nhe 'lấp đầy khoảng trống' mà Mỹ để lại ở Afghanistan

Ông Ibish cho rằng, với những phát triển về công nghệ và chiến lược trong những năm gần đây và những bài học kinh nghiệm từ thời kỳ hậu 9/11, Hoa Kỳ chắc chắn có thể làm được nhiều hơn hoặc ít nhất là đủ, với nguồn lực hao tổn ít hơn.

Sự đồng thuận nhận thức được của Ibish trùng khớp với các yếu tố trong chiến lược quân sự mà Biden đưa ra trong một bài phát biểu bảo vệ việc xử lý việc rút quân ở Afghanistan.

Biden nhấn mạnh rằng, Mỹ hiện sẽ tránh xa các cuộc chiến trên bộ đòi hỏi phải triển khai quân số lượng lớn. Thay vào đó, Mỹ sẽ tập trung vào kinh tế và an ninh mạng, trong cuộc cạnh tranh với Nga và Trung Quốc.

Theo định hướng này, Hoa Kỳ sẽ chống lại những kẻ cực đoan bằng công nghệ quân sự, ưu tiên cho phép Lầu Năm Góc tấn công các mục tiêu cụ thể, hơn là tham gia các cuộc chiến trên bộ quy mô lớn như ở Afghanistan.

Mina al-Oraibi, tổng biên tập của The National, một trong những tờ báo tiếng Anh hàng đầu của Trung Đông xuất bản tại UAE, đã chỉ ra một khoảng cách xa vời giữa kỳ vọng của các nước vùng Vịnh và thực tế mà Tổng thống Mỹ Joe Biden đã miêu tả.

al-Oraibi cho biết: 'Trong số các nhà hoạch định chính sách ở Trung Đông, hiện có sự cảm nhận rằng, Hoa Kỳ không còn đầu tư vào việc duy trì sự ổn định ở nước ngoài, trừ khi lợi ích quốc gia được xác định [với nội hàm hẹp hơn] của họ bị ảnh hưởng trực tiếp'.

Trong một bài báo có tựa đề 'Nước Mỹ không phải là ngoại lệ', bà Mina al-Oraibi viết rằng, chiến lược của Biden đã được 'thông báo to và rõ ràng' ở Trung Đông là: 'Sứ mệnh của Mỹ ở Afghanistan là ngăn chặn một cuộc tấn công khủng bố vào nước Mỹ''tập trung hẹp vào chống khủng bố, không phải chống nổi dậy [ở Afghanistan] hoặc xây dựng quốc gia này'.

'Ở những quốc gia như Libya và Yemen, nơi xung đột vẫn tiếp diễn và việc xây dựng quốc gia là yếu tố quan trọng hàng đầu, Washington đã tạm ngưng hoạt động trong một số năm. Tuy nhiên, việc rút lui tạm thời đó sẽ nhanh chóng trở thành chính sách chính thức' - bà nói.

Bà al-Oraibi chỉ ra, từ mối đe dọa của các nhóm khủng bố như Nhà nước Hồi giáo (IS) ở Syria đến các lực lượng dân quân được hậu thuẫn ở cấp nhà nước như Hezbollah [ở Lebanon], các đồng minh của Mỹ không còn hy vọng có thể dựa vào Washington nữa.

Khi các quan chức Mỹ đặt câu hỏi về sự lựa chọn của một số quốc gia - như Ai Cập, Iraq và Saudi Arabia, khi những nước này gia tăng quan hệ với Trung Quốc - thì họ đã hiểu rằng, Bắc Kinh trở thành một đối tác đáng tin cậy hơn giống như cách Nga chứng tỏ là một đối tác đáng tin cậy hơn đối với Tổng thống Syria Bashar al-Assad, đảm bảo sự sống sót của ông ta - bà nói thêm.

'Sự sống còn' là từ khóa tối quan trọng. Al-Oraibi đã xác định rõ ràng hậu quả có lẽ là cơ bản nhất của việc Mỹ rút quân là Trung Á và có thể cả Trung Đông sẽ rơi vào tay những nhà lãnh đạo chuyên quyền, ngay cả khi Nga và Trung Quốc không có khả năng ủng hộ họ theo cách mà Mỹ đã làm trong nhiều thập kỷ.

Cơ hội đến với Nga và Trung Quốc

Nga, nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai thế giới và Trung Quốc đều sẽ rất vui khi bán vũ khí và khai thác những rạn nứt trong mối quan hệ của các nước Vùng Vịnh với Mỹ. Nhưng Bắc Kinh và Moscow không có đủ tiềm lực và khả năng thay thế Mỹ với tư cách là người bảo đảm an ninh cho Trung Đông.

Tuy nhiên, điều đó không ngăn được Nga nhanh chóng ký các thỏa thuận hợp tác quốc phòng với Saudi Arabia và Ai Cập. Không có thông tin chi tiết nào được tiết lộ, các thỏa thuận dường như là một nỗ lực của Riyadh và Cairo nhằm cảnh cáo Mỹ, trong khi Moscow chộp lấy cơ hội để chọc ngoáy Washington.

Học giả Nga về Trung Đông là ông Alexey Khlebnikov cho biết: 'Với quan hệ chiến lược của Saudi Arabia với Hoa Kỳ, khó có khả năng Riyadh sẽ hợp tác quân sự với Moscow ở mức độ tương đương với Mỹ'.

Ông nhấn mạnh rằng, Điện Kremlin không có mong muốn và cũng không có khả năng thay thế Washington trở thành đồng minh chính của Cairo và Riyadh, mà Moscow sẽ cố gắng khai thác tình hình để gia tăng các giao dịch vũ khí trong khu vực, mang lại cho nhiều dòng tiền tệ hơn.

Tương tự như vậy, các quốc gia Ả Rập sẽ khôn ngoan khi nhận ra rằng Trung Đông không phải là Trung Á. Các mối đe dọa liên quan đến di cư, bạo lực chính trị và ma túy ở Trung Á đang ở ngay ngưỡng cửa của Nga và Trung Quốc, chứ không phải ở những vùng đất xa xôi.

Cách thức mà Nga và Trung Quốc xử lý những mối đe dọa đó sẽ là một phép thử mà các nhà lãnh đạo vùng Vịnh có thể sẽ rất chú ý.

'Moscow sẽ chuẩn bị sẵn sàng để tiếp nhận một số trường hợp chủ nghĩa cực đoan lan tràn… Các nhà lãnh đạo Nga sẽ phải đối mặt với thách thức khó khăn hơn nhiều nếu Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) hoặc các nhóm cực đoan có tổ chức khác bắt đầu một lần nữa nhằm vào Trung Á hoặc chính Nga từ Afghanistan. Đây chính xác là viễn cảnh mà các nhà hoạch định chính sách Nga lo lắng' - học giả Paul Stronski của Carnegie Endowment Russia cho biết.

Trong những tuần gần đây, Nga đã tìm cách nêu bật khả năng và cam kết của mình đối với an ninh Trung Á trong các cuộc tập trận với Tajikistan, Kyrgyzstan và các thành viên khác của Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO), một liên minh quân sự do Nga dẫn đầu gồm các quốc gia thuộc Liên Xô cũ.

Tuy nhiên, Stronski cho rằng, các quốc gia vùng Vịnh cần lưu ý là hồ sơ độ tin cậy của Nga không tốt hơn của Mỹ.

Nga đã thất bại trong việc viện trợ cho thành viên CSTO Armenia trong cuộc chiến chống lại Azerbaijan vào năm ngoái; Moscow cũng không giúp chấm dứt những ngày bạo lực liên miên vào năm 2020 dọc theo biên giới giữa các thành viên CSTO là Kyrgyzstan và Tajikistan, mặc dù Sergey Shoygu, Bộ trưởng Quốc phòng Nga, đang gặp các đối tác liên minh của mình tại Dushanbe vào đúng thời điểm đó.

Rủi ro đối với Mỹ là Trung Quốc có thể tỏ ra lão luyện hơn trong trò chơi với Biden, đặc biệt trong bối cảnh mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington ngày càng xấu đi.

Ví dụ, Trung Quốc có thể cố gắng khai thác những nghi ngờ trong khu vực bằng cách thúc đẩy các nước vùng Vịnh - nơi có trữ lượng dầu và khí đốt của thế giới - chuyển sang định giá năng lượng của họ bằng đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc thay vì dollars Mỹ, một động thái mà nếu thành công sẽ làm suy yếu một trụ cột của Mỹ là sức mạnh tài chính toàn cầu.

Một phép thử có thể đối với sự can dự của Trung Quốc ở Afghanistan sẽ là liệu một chính phủ do Taliban thống trị có dẫn độ người Duy Ngô Nhĩ [người Uyghur ở Tân Cương] hay không. Trung Quốc đã yêu cầu dẫn độ thành công các công dân Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ của họ từ các nước như Ai Cập, Malaysia và Thái Lan.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị ám chỉ về các yêu cầu dẫn độ có thể xảy ra trong cuộc đàm phán vào tháng 7 ở Trung Quốc với Mullah Abdul Ghani Baradar, một người đồng sáng lập Taliban.

Ông Vương yêu cầu Taliban cắt đứt quan hệ với tất cả các nhóm chiến binh người Uyghur và có hành động kiên quyết chống lại Đảng Hồi giáo Turkestan Duy Ngô Nhĩ (TIP).

Cho đến nay, Taliban đã từ chối, bất kể áp lực lớn đến thế nào, để đàn áp các chiến binh đã giúp đỡ họ trong các cuộc chiến hơn 25 năm qua.

Cựu Ngoại trưởng của chính phủ Afghanistan do Mỹ hậu thuẫn của cựu tổng thống Ashraf Ghani là ông Haneef Atamar đã từng khẳng định rằng, người Duy Ngô Nhĩ, bao gồm cả các chiến binh một thời ở Syria, đã đóng góp đáng kể vào những thành công gần đây của Taliban ở miền bắc Afghanistan.

Kết thúc kỷ nguyên chính quyền dân chủ phương Tây?

Bà al-Oraibi nhấn mạnh, với một Hoa Kỳ rã rời và thiếu sự đồng thuận của châu Âu trong việc lấp đầy khoảng trống Trung Á hậu Afghanistan, việc thiết lập các hệ thống chính phủ theo hình dáng của các nền dân chủ tự do phương Tây không còn có ý nghĩa nữa.

Sau hai thập kỷ thúc đẩy nền dân chủ với tư cách là hệ thống chính quyền hàng đầu ở Trung Á, thực tế được ghi nhận ở nhiều thủ đô Trung Đông là Hoa Kỳ đã từ bỏ quan điểm khoa trương đó.

Vị nữ học giả này nhấn mạnh rằng, việc các chính phủ ở Trung Á không còn theo định hướng phương Tây có thể không phải là một điều xấu. Các mô hình 'chính phủ hiệu quả' nên là mục tiêu nhắm đến, hơn là các 'chính phủ dân chủ' được thành lập thông qua thùng phiếu, nhưng thực tế không mang lại lợi ích cho người dân của họ.

Phân tích bị cho là 'khó hiểu' của bà al-Oraibi được minh chứng bằng sự kiện Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin đã cắt giảm công việc của mình khi ông đến vùng Vịnh để cảm ơn các quốc gia như UAE và Qatar, vì sự giúp đỡ của họ trong việc sơ tán khỏi Afghanistan.

Tiến sĩ James M. Dorsey nhận định, các quốc gia vùng Vịnh hiện nay dường như đang bị mắc kẹt với một Hoa Kỳ của Donald Trump và sau đó là Joe Biden, ít có những cam kết bền vững với đồng minh hơn.

Thực tế đó sẽ thúc đẩy họ phải bù đắp sự không chắc chắn đối với Mỹ bằng khả năng tự lực cao hơn và tăng cường các liên minh khu vực chính thức và không chính thức, đặc biệt là với Nga, Trung Quốc và Israel.

Theo Nguyễn Ngọc/Đất Việt Link Gốc:           Copy Link
http://baodatviet.vn/the-gioi/quan-he-quoc-te/cuoc-dau-my-nga-trung-o-afghanistan-va-bai-hoc-cho-vung-vinh-3439501/

Tags: Mỹ rút khỏi Afghanistan  |  Nga độc bá Trung Đông  |  Trung Quốc can thiệp vùng Vịnh