IEA bị chỉ trích, thế giới có đồng lòng ngừng khai thác dầu khí để đạt trung hòa carbon?

Theo báo cáo trung hòa carbon vào năm 2050 'Net Zero 2050' của Tổ chức Năng lượng Quốc tế IEA, tổ chức này kêu gọi ngừng hoàn toàn đầu tư vào các dự án dầu khí mới nhằm đạt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050. Điều này đã gây ra một cú sốc trên thị trường. Theo mục tiêu trung hòa carbon, toàn bộ lượng phát thải khí nhà kính, chủ yếu là CO2 và khí metan sẽ bị loại bỏ hoàn toàn nhằm ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu, vốn đang gây ra tình trạng biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu.

IEA bị chỉ trích, thế giới có đồng lòng ngừng khai thác dầu khí để đạt trung hòa carbon?

Giám đốc điều hành IEA Fatih Birol cho biết, để đạt trung hòa carbon vào năm 2050, thế giới cần phải cấm các hoạt động đầu tư vào thăm dò và phát triển các mỏ dầu khí mới trong năm nay. Lãnh đạo của IEA thừa nhận, quyết định như vậy sẽ gây ra hậu quả sâu rộng đối với tất cả các nhà sản xuất dầu khí toàn cầu. Bên cạnh đó, trong quá trình chuyển đổi sang ngừng phát thải carbon ròng, số lượng các nhà sản xuất dầu khí trên thế giới sẽ giảm đáng kể. Trên thị trường sẽ chỉ tồn tại các nhà sản xuất có chi phí sản xuất thấp nhất, nhất là các quốc gia thành viên OPEC. Tổ chức này sẽ tăng thị phần từ 37% lên 52% thị trường dầu mỏ toàn cầu vào năm 2050.

Báo cáo của IEA nhấn mạnh sự cần thiết phải giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch cũng như về 'cái giá phải trả' để đạt được trung hòa carbon vào thời hạn chót. Theo đó, các quốc gia phát triển nhất ở phương Tây sẽ phải 'trả giá' đầu tiên vì những quốc gia có mức tiêu thụ năng lượng hóa thạch lớn nhất trong số các quốc gia đang phát triển ở châu Á như Ấn Độ và Trung Quốc không có ý định từ bỏ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Hơn nữa, hai quốc gia này còn đang lên kế hoạch tăng sản lượng sản xuất than của mình. Tại Trung Quốc và Ấn Độ, than đá vẫn là nhiên liệu chính được sử dụng để sản xuất điện.

Cả Trung Quốc và Ấn Độ đều không 'che đậy' quan điểm cho rằng, việc đạt mục tiêu trung hòa carbon không nhằm mục đích bảo vệ môi trường mà phục vụ lợi ích của phương Tây, những quốc gia đang tìm cách làm chậm lại sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển. Trước đó vào tháng tư, cựu lãnh đạo Đảng Bảo thủ tại Anh William Haig cho biết, nước này có thể sử dụng cả các biện pháp ngoại giao và quân sự để bảo vệ môi trường. Trong quá khứ, Vương quốc Anh đã sử dụng mọi biện pháp, bao gồm cả quân sự và ngoại giao để đảm bảo khai thác nhiên liệu hóa thạch. Và đến thời điểm hiện tại, nước này lại thay đổi hoàn toàn chính sách của mình theo hướng sử dụng mọi biện pháp hiện có để ngăn chặn sử dụng các nguồn tài nguyên hóa thạch với lý do bảo vệ môi trường.

IEA đang bị chỉ trích nặng nề

Ngay sau khi được công bố, báo cáo của IEA đã bị chỉ trích nặng nề. Theo các nhà phê bình, Giám đốc điều hành Fatih Birol đã quên mất mục đích mà IEA được thành lập. Đó là đảm bảo an ninh năng lượng, ngăn chặn sự thiếu hụt nguồn cung năng lượng (chủ yếu là dầu và khí đốt) để đảm bảo tăng tốc phát triển kinh tế. Báo cáo của IEA cũng đã bỏ qua thực tế rằng, dầu khí sẽ tiếp tục đóng vai trò chủ chốt trong nền kinh tế toàn cầu. Hai loại nhiên liệu hóa thạch này là nguyên liệu liệu thô để sản xuất không chỉ nhiên liệu động cơ mà còn các sản phẩm dầu mỏ khác như phân bón, polymer, hóa chất mà xã hội hiện đại không thể thiếu.

Việc ngừng đầu tư vào ngành dầu khí cũng sẽ dẫn đến sự phá hủy thị trường năng lượng toàn cầu. Ngừng đầu tư sẽ gây ra thiệt hại không thể khắc phục đối với các công ty dầu khí tích hợp trục dọc và hầu hết các công ty dầu khí độc lập sẽ bị phá sản. Khi đó, thị trường năng lượng toàn cầu sẽ nằm dưới sự kiểm soát của các công ty dầu khí quốc gia như Saudi Aramco (KSA), NIOC (Iran), Petrobras (Brazil), Equinor (Na Uy), Rosneft và Gazprom (Nga), Sinopec, CNPC và CNOOC (Trung Quốc).

Theo một số chuyên gia, thế giới hiện nay đang bị thống trị bởi 'chủ nghĩa dân tộc tài nguyên'. Hầu như tất cả trữ lượng dầu và khí đốt đều nằm dưới sự kiểm soát của các chính phủ. Các công ty dầu khí tích hợp trục dọc quốc tế chỉ có thể tiến hành hoạt động thăm dò, khai thác khi có sự cho phép của chính phủ các nước với khối lượng được xác định nghiêm ngặt. Chính phủ của một số nhà sản xuất có trữ lượng dầu mỏ lớn có thể ảnh hưởng đến thị trường năng lượng toàn cầu. Một ví dụ điển hình là thỏa thuận OPEC+, đã khiến cho ảnh hưởng của các công ty dầu khí quốc tế và tư nhân giảm dần do suy giảm trữ lượng sẵn có. Thực tế hiện nay cho thấy, trữ lượng dầu khí đã được chứng minh thuộc sở hữu của các công ty dầu khí tích hợp trục dọc đang ở mức rất thấp. Theo các chuyên gia phương Tây, nếu khoản đầu tư tìm kiếm, thăm dò trữ lượng mới bị cắt giảm thì trữ lượng hiện có của các công ty dầu khí tích hợp trục dọc sẽ cạn kiện trong vòng 5-6 năm tới.

Bên cạnh đó, việc ngừng đầu tư và sản xuất dầu khí có thể biến thành một thảm họa địa chính trị và kinh tế đối với phương Tây khi các công ty dầu khí quốc gia sẽ kiểm soát và thống trị thị trường năng lượng toàn cầu. Nếu không có các công ty dầu khí tích hợp trục dọc, thị trường sẽ mất đi đối trọng lớn nhất với liên minh OPEC+ trong điều tiết nguồn cung dầu toàn cầu.

Các nhà phê bình IEA đã kết luận rằng, thế giới sẽ không thể đạt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050 nếu không có dầu và khí đốt. Ngay cả khi các nước OECD giảm đáng kể lượng tiêu thụ dầu và khí đốt để đạt trung hòa carbon, thì các nước ngoài OECD không có ý định như vậy. Hydrocarbon vẫn đang thực sự cần thiết cho sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế toàn cầu. Do đó, đề xuất ngừng đầu tư hoàn toàn vào ngành dầu khí của IEA là thiếu thận trọng.

Wood Mackenzie: giá trị của ngành dầu khí là khổng lồ

Sau khi báo cáo của IEA được công bố, hãng phân tích Wood Mackenzie cũng đã công bố báo cáo về sự phát triển của ngành dầu khí trong những thập kỷ tới.

Wood Mackenzie kỳ vọng, nhu cầu dầu khí sẽ phục hồi trong thời gian tới và thậm chí sẽ vượt mốc 160 triệu thùng dầu quy đổi/ngày. Sản xuất dầu khí sẽ ngày càng hiệu quả hơn. Theo ước tính của Wood Mackenzie, trong năm 2021, các nhà sản xuất dầu khí có thể tạo ra dòng tiền tự do khi giá dầu ở mức 60 USD/thùng, thấp hơn nhiều so với mức 100 USD/thùng vào năm 2014. Về dài hạn, khi thế giới tiến gần hơn đến mục tiêu trung hòa carbon, nhu cầu hydrocarbon toàn cầu sẽ giảm xuống. Theo kịch bản lạc quan, nhu cầu dầu toàn cầu sẽ giảm dần xuống mức 90 triệu thùng/ngày vào năm 2050. Đến năm 2030, giá dầu Brent sẽ vượt mốc 80 USD/thùng, giúp tăng cường đầu tư vào các dự án mới. Giá nhiên liệu LNG sẽ tăng lên 8-9 USD/MMBTU vào năm 2040 và duy trì ở mức này.

Trong trường hợp cộng đồng quốc tế tích cực chống lại sự ấm lên toàn cầu, nhu cầu dầu mỏ của thế giới sẽ đạt đỉnh vào năm 2025 và giảm xuống còn 35 triệu thùng/ngày vào năm 2050. Trong trường hợp này, giá dầu Brent sẽ giảm xuống còn 40 USD/thùng vào năm 2030 và tiếp tục giảm trong thập kỷ tiếp theo. Theo kịch bản, giá LNG sẽ ở mức 7-8 USD/MMBTU vào năm 2040 và sau đó bắt đầu giảm dần. Vì vậy mà Phó Chủ tịch của Wood Mackenzie Fraser McKay kết luận rằng, thế giới vẫn cần dầu thô và khí đốt trong nhiều thập kỷ tới và ngành công nghiệp dầu khí sẽ vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.

Theo Viễn Đông/Petrotimes Link Gốc:           Copy Link
https://petrotimes.vn/iea-bi-chi-trich-the-gioi-co-dong-long-ngung-khai-thac-dau-khi-de-dat-trung-hoa-carbon-612168.html

Tags: IEA  |  giảm phát thải  |  giảm phát thải carbon